Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, tạo nền tảng để đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Đây là mục tiêu đầy khát vọng của Đảng và Nhà nước, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải hình thành những động lực tăng trưởng mới bên cạnh các động lực truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong bối cảnh đó, văn hóa và du lịch đang nổi lên như một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế hiện đại.

Trình diễn nghệ thuật tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: TITC
Văn hóa - động lực phát triển mới của đất nước
Nếu như trước đây, văn hóa chủ yếu được nhìn nhận là nền tảng tinh thần của xã hội thì ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế sáng tạo, văn hóa đã trở thành nguồn lực nội sinh, là tài sản chiến lược của quốc gia, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng sức cạnh tranh và quảng bá hình ảnh đất nước. Trong khi đó, du lịch - với vai trò là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, chính là lĩnh vực có khả năng chuyển hóa trực tiếp các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế. Sự đồng hành giữa công nghiệp văn hóa và du lịch vì vậy không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới mà còn là lời giải quan trọng để Việt Nam kiến tạo động lực tăng trưởng mới, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.
Tư duy phát triển đó đã được thể hiện rõ nét trong những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước thời gian qua. Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và tư duy lãnh đạo về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Lần đầu tiên, văn hóa và con người được xác định là “nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước”.
Đây không chỉ là sự kế thừa quan điểm xuyên suốt của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ rằng văn hóa phải trở thành một nguồn lực phát triển, một bộ phận cấu thành của sức mạnh kinh tế quốc gia. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và đến năm 2045 đạt khoảng 9% GDP; đồng thời yêu cầu Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển…
Tiếp đó, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 24/4/2026, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đây là nghị quyết đầu tiên của Quốc hội quy định nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội dành riêng cho phát triển văn hóa. Việc xác lập ngày 24 tháng 11 hàng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam mang ý nghĩa tôn vinh văn hóa dân tộc đồng thời góp phần thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, quảng bá và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Đặc biệt, việc thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư, khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; quy định mô hình cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa; cho phép thực hiện thí điểm nhiều cơ chế đặc thù đối với Chính phủ, chính quyền địa phương và đơn vị sự nghiệp công lập đã mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam…

Nghệ nhân Bùi Quý Phong hướng dẫn du khách vẽ mặt nạ giấy bồi tại Hội An. Ảnh: Võ Văn Việt
Du lịch tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế
Điều đáng chú ý là quá trình hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa diễn ra đúng vào thời điểm ngành Du lịch Việt Nam đang phục hồi mạnh mẽ và khẳng định vai trò là điểm sáng của nền kinh tế.
Du lịch trong 7 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận những tín hiệu rất tích cực khi lượng khách quốc tế đạt 13,9 triệu lượt, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2025; thị trường khách nội địa tiếp tục tăng trưởng với 98 triệu lượt khách, tăng 5,3% so với cùng kỳ 2025…
Quan trọng hơn, du lịch đang chứng minh vai trò là ngành kinh tế tổng hợp có sức lan tỏa rất lớn. Không chỉ trực tiếp tạo doanh thu, ngành Du lịch còn thúc đẩy phát triển hàng loạt lĩnh vực như vận tải, hàng không, lưu trú, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, công nghệ số và kinh tế ban đêm. Theo báo cáo thống kê, đóng góp tổng thể của du lịch đối với nền kinh tế Việt Nam hiện đạt khoảng 8-10% GDP, đồng thời tạo việc làm cho hàng triệu lao động trực tiếp và gián tiếp. Những kết quả này cho thấy du lịch không còn là ngành dịch vụ đơn thuần mà đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp văn hóa và du lịch - Hai cánh của một động lực tăng trưởng mới
Công nghiệp văn hóa và du lịch mở ra cơ hội chưa từng có để hình thành một hệ sinh thái kinh tế sáng tạo có sức lan tỏa mạnh mẽ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hầu hết các quốc gia có ngành Du lịch phát triển đều là những quốc gia có công nghiệp văn hóa mạnh. Nhật Bản đã đưa anime, manga, điện ảnh, kiến trúc, ẩm thực và các lễ hội truyền thống trở thành thương hiệu quốc gia, thu hút hàng chục triệu lượt khách quốc tế mỗi năm. Hàn Quốc xây dựng thành công “Làn sóng Hallyu”, biến âm nhạc, điện ảnh, thời trang, mỹ phẩm và nghệ thuật biểu diễn thành động lực thúc đẩy du lịch và xuất khẩu. Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha hay Vương quốc Anh đều coi bảo tàng, nghệ thuật, thiết kế, thời trang, di sản và các sự kiện văn hóa là “nam châm” thu hút khách du lịch toàn cầu. Những quốc gia này không bán tài nguyên thiên nhiên mà bán trải nghiệm văn hóa, bán bản sắc dân tộc và bán những giá trị sáng tạo được kết tinh từ lịch sử hàng trăm năm.

Lễ hội truyền thống đền Đa Hòa (Hà Nội). Ảnh: Vũ Hải
Việt Nam có điều kiện thuận lợi để đi theo con đường đó. Chúng ta sở hữu kho tàng di sản đồ sộ với hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa, hàng nghìn lễ hội truyền thống, hàng trăm làng nghề, hàng nghìn loại hình nghệ thuật dân gian cùng nền ẩm thực được quốc tế đánh giá rất cao. Đây là nguồn nguyên liệu vô tận cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch trải nghiệm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn tài nguyên này vẫn chưa được khai thác tương xứng. Nhiều điểm đến vẫn chủ yếu dựa vào hoạt động tham quan, thiếu các sản phẩm trải nghiệm sáng tạo; nhiều lễ hội mới dừng ở chức năng bảo tồn mà chưa trở thành sản phẩm kinh tế; nghệ thuật biểu diễn truyền thống, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế sáng tạo và công nghiệp giải trí chưa thực sự gắn kết với phát triển du lịch. Điều này dẫn đến thời gian lưu trú của khách quốc tế còn ngắn, mức chi tiêu bình quân chưa cao, tỷ lệ khách quay trở lại còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Trong khi đó, công nghiệp văn hóa chính là “chìa khóa” để nâng cấp chuỗi giá trị gia tăng của ngành Du lịch. Một bộ phim nổi tiếng có thể tạo nên một điểm đến mới; một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể trở thành thương hiệu quốc tế; một chương trình biểu diễn nghệ thuật đẳng cấp có thể giữ chân du khách thêm nhiều đêm; một không gian sáng tạo văn hóa có thể hình thành cả một hệ sinh thái tiêu dùng mới. Nói cách khác, nếu văn hóa là linh hồn của điểm đến thì công nghiệp văn hóa chính là công cụ chuyển hóa linh hồn ấy thành giá trị kinh tế, còn du lịch là thị trường để các giá trị đó được lan tỏa và thương mại hóa. Đây chính là mô hình phát triển mà nhiều nền kinh tế sáng tạo trên thế giới đã chứng minh thành công.
Cơ hội lớn từ Nghị quyết 26-NQ/TW
Một cơ hội rất lớn đối với Du lịch Việt Nam là Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết 26 không chỉ kế thừa thành quả của Nghị quyết số 08-NQ/TW mà mở ra một tầm nhìn phát triển mới, trong đó chuyển từ tư duy phát triển ngành sang phát triển hệ sinh thái kinh tế du lịch; từ khai thác tài nguyên sang khai thác sáng tạo; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên giá trị gia tăng và năng suất.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là phải đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển du lịch trong giai đoạn mới. Cần thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa; phát triển các cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa gắn với tỏa thông qua thị trường du lịch; còn du lịch không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy sức mạnh mềm quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. các trung tâm du lịch lớn; thúc đẩy kinh tế ban đêm, công nghiệp biểu diễn, điện ảnh, âm nhạc, thời trang… trở thành sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn quản trị điểm đến, quảng bá, tiếp thị; tiếp tục cải cách mạnh mẽ chính sách thị thực, mở rộng kết nối hàng không quốc tế, đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông và hạ tầng số; xây dựng thương hiệu quốc gia theo hướng tích hợp giữa văn hóa, du lịch và công nghiệp sáng tạo…

Biểu diễn thực cảnh Hội An. Ảnh: Minh Phượng
Quan trọng hơn, cần chuyển mạnh tư duy phát triển từ "khai thác tài nguyên" sang "kiến tạo giá trị". Mỗi di sản phải trở thành một không gian sáng tạo; mỗi lễ hội phải trở thành một sản phẩm kinh tế; mỗi làng nghề phải trở thành một điểm đến trải nghiệm; mỗi nghệ sĩ, nhà thiết kế, đạo diễn, kiến trúc sư hay đầu bếp đều có thể trở thành những "đại sứ" tạo nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Khi đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được tái tạo, sáng tạo và lan tỏa thông qua thị trường du lịch; còn du lịch không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy sức mạnh mềm quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Lời kết
Sự cộng hưởng giữa hai lĩnh vực để hình thành một hệ sinh thái phát triển mới, trong đó văn hóa là nguồn lực, công nghiệp văn hóa là động lực, du lịch là cầu nối thị trường và chuyển đổi số là phương thức phát triển. Sự kết hợp chặt chẽ sẽ tạo nên sức bật mới cho nền kinh tế, không chỉ nâng cao đóng góp của du lịch và công nghiệp văn hóa vào GDP mà còn thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó cũng chính là con đường bền vững để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng kinh tế hai con số, xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
TS. Đoàn Mạnh Cương
Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Travel+ số 9/2026